Vậy thực hư của phương pháp lột da này là như thế nào? Những tác dụng đẹp đẽ và hăng hái đó có tồn tại mãi không? Và tại sao cũng có không ít người gặp phải những biến chứng nghiêm trọng?
Lột da hóa học là gì?
Lột da hóa học, thuật ngữ tiếng Anh là chemical peelings, hay tại các spa, các thẩm mỹ viện còn được gọi là thay da hóa học hay thay da sinh học. bản tính của phương pháp này là một liệu pháp trị liệu da liễu thẩm mỹ được các thầy thuốc da liễu hay các chuyên viên thẩm mỹ áp dụng trong trị liệu một số vấn đề về da như mụn, sẹo, thâm, lão hóa, rối loạn sắc tố…
Cơ sở khoa học của phương pháp này dựa trên việc sử dụng các hoạt chất thay da hóa học có thực chất là các acid hữu cơ như alpha hydroxy acid (AHA) gồm acid citric, acid glycolic, acid lactic… hay beta hydroxy acid (BHA) như acid salicylic hoặc alpha keto acid như acid pyruvic nhằm kích thích quá trình bong vảy của lớp biểu bì, xúc tiến nhanh quá trình thay mới và tái tạo của làn da. Đồng thời tạo một tín hiệu thương tổn lành tính nhằm phát khởi một phản ứng viêm có kiểm soát để kích thích việc tăng sinh collagen, elastin, tăng cường tái cấu trúc biểu bì và trung bì.
Bên cạnh khả năng gây bong da và tróc vảy, mỗi acid hữu cơ còn có một số tác dụng sinh học đi kèm, và thường được chọn lọc phù hợp với loại da, vấn đề da của mỗi người như acid lactic có khả năng làm trắng và giữ ẩm; acid glycolic có khả năng kích thích nguyên bào sợi tăng cường sản sinh collagen và elastin, tăng cường hàm lượng acid hyaluronic ở màng lưới ngoại bào; acid salicylic có tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn, điều chỉnh dầu nhờn và làm thông thoáng lỗ chân lông…
Các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình lột da hóa học
Các quy trình lột da hóa học khác nhau sẽ tạo nên những tác dụng khác nhau phụ thuộc vào bản tính hóa học của acid được tuyển lựa. Các yếu tố ảnh hưởng gồm: Một acid hay sự phối hợp của nhiều acid khác nhau, nồng độ của acid được tuyển lựa, độ pH của dung dịch thay da, môi trường của dung dịch thay da có được “đệm” sẵn hay không và thao tác, kỹ thuật thực hành quy trình thay da như thế nào (dùng cọ hay bông cotton để thoa dung dịch, thoa bao lăm lớp, dung dịch tiếp xúc với làn da bao lăm lâu trước khi trung hòa, chấm dứt quy trình có trung hoa acid hay không…).
Không tự tiện sử dụng củ huệ tây để lột da tại nhà.
Ngoài ra, tình trạng da và cách chăm sóc da của bệnh nhân trước khi thực hiện quy trình thay da sinh vật học cũng có ảnh hưởng không hề nhỏ đến quy trình thay da hóa học. Những người có da mỏng đỏ, yếu, hay da khô, bong tróc hoặc tẩy da quá mạnh, hay sử dụng các chế phẩm dưỡng da bong tróc biểu bì như AHA, BHA, retinol, isotretinoin… trước khi thay da đều dễ làm cho da trở nên mẫn cảm và dễ thương tổn hơn đối với quy trình thay da hóa học. Và cố nhiên, một chế độ dưỡng da và bảo vệ da hợp sau quy trình thay da hóa học là cực kỳ quan yếu để mang lại hiệu quả tốt nhất và ngăn ngừa những tai biến không đáng có – tránh nắng và chống nắng sau trị liệu là hoàn toàn chẳng thể bỏ sót.
Lợi và hại của liệu pháp thay da hóa học
lợi.
Thay da hóa học là một liệu pháp trị liệu da liễu thẩm mỹ không thể thiếu đối với các bác sĩ da liễu và các cơ sở coi ngó, trị liệu da chuyên nghiệp. Khi thực hiện đúng, thay da hóa học có thể khắc phục được rất nhiều vấn đề trên da như mụn, sẹo, thâm, chân lông to, lão hóa, rối mù màu tố… với phí tổn thấp hơn rất nhiều lần so với các phương pháp trị liệu bằng công nghệ cao như laser, ánh sáng cường độ cao, sóng siêu thanh hội tụ, vi kim điện từ… Thậm chí, trong một số trường hợp như mụn do vi khuẩn hay viêm nang lông do vi nấm, viêm da tiết bã, liệu pháp thay da hóa học đóng một vai trò rất quan trọng trong trị liệu mà khó có thể được thay thế hoàn toàn bởi một liệu pháp công nghệ cao nào khác.
Tác hại
mặc dầu có nhiều lợi. và hầu như không thể thay thế trong một số trường hợp, nhưng liệu pháp thay da hóa học cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và tai biến nghiêm trọng nếu không được thực hiện đúng cách. Việc sử dụng những dung dịch thay da tự chế như ngâm rễ cây, thuốc rượu, dùng củ huệ tây... để tự thay da/lột da tại nhà dễ gây nên những thương tổn nghiêm trọng cho làn da. nguyên cớ là do nồng độ các hóa chất tiêu sừng, bong vảy không được kiểm soát nghiêm ngặt, chỉ số pH của dung dịch không phù hợp với loại da và vấn đề da, dung dịch không được đệm sẵn để giảm tính ăn mòn của acid, độ vô khuẩn của dung dịch không được bảo đảm, các hoạt chất kích ứng da chưa được loại trừ hoàn toàn… Thậm chí, khi một dung dịch thay da được sản xuất bởi những thương hiệu hàng đầu, nhưng lại được thực hiện bởi một kỹ thuật viên không được đào tạo bài bản cũng sẽ gây ra những tác hại khó lường. Việc thay da hóa học phải do kỹ thuật viên có kinh nghiệm và được đào tạo chuyên sâu để có thể nhận biết được điểm dừng lâm sàng ăn nhập, lựa chọn tác nhân thay da không phù hợp, hay kỹ thuật áp dụng thay da lên khách hàng không chuẩn mực – để quá lâu hoặc bôi quá nhiều lớp…
Các tai biến của thay da hóa học có thể chỉ nhẹ nhõm như đỏ da, kích ứng, bong da quá mức, hoặc cũng có thể rất nghiêm trọng như nhiễm trùng, tạo sẹo, da mỏng đỏ - lộ chỉ máu, hay tăng sắc tố sau viêm…
Lột da hoá học cần tránh để lâu hoặc bôi quá dày.
giờ, có một số người rỉ tai nhau bôi một số loại kem làm trắng cấp tốc sau khi thay da/lột da nhằm đạt được làn da trắng hồng, mịn màng, căng bóng nhưng lại không biết được rằng những loại kem đó có chứa thành phần corticoid tạo tác dụng trắng da nhờ kháng viêm và ức chế miễn dịch mạnh, cũng như căng bóng da nhờ tác dụng phụ gây phù và giữ nước. Tuy nhiên họ không biết được rằng, sau khi bôi các loại kem này một thời gian, làn da sẽ bị mỏng đỏ, lộ huyết mạch do tác dụng phụ gây teo da – giãn mạch, và có thể nổi mụn, kích ứng da, thậm chí dẫn đến hình thành nám kháng trị.
Trước khi quyết định có nên lột da/ thay da hóa học hay không, bạn cần tìm hiểu kỹ về phương pháp làm đẹp này. Đồng thời, cần được các bác sĩ da liễu hoặc chuyên gia thẩm mỹ thăm khám da cụ thểvì thay da hóa học cần được chỉ định đúng loại da, đúng trường hợp để đạt được hiệu quả tốt nhất, và tránh được những rủi ro, tai biến và tác dụng phụ. Không nên tự áp dụng thay da/lột da qua các liệu pháp dân gian, hay truyền miệng vì dễ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và khó hồi phục.
DS. Tiến Phạm